Một số Quy định về hướng dẫn kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán

 Ngày 25/01/2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 09/2021/TT-BTC về hướng dẫn kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2021. Thông tư quy định việc tổ chức và thực hiện kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 71 Luật Kế toán năm 2015 đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán, kế toán viên hành nghề tại các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán.

Đối tượng được kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán là các đơn vị có thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán theo quy định của Luật kế toán năm 2015; Người hành nghề dịch vụ kế toán; Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế có cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2019 và người có chứng chỉ kế toán viên làm việc tại tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế có cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ và đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến kế toán và hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.

Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán; Tổ chức nghề nghiệp về kế toán là cơ quan phối hợp kiểm tra. Nội dung kiểm tra là tình hình tuân thủ các quy định của pháp luật về đăng ký, duy trì điều kiện hành nghề và điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán của người hành nghề dịch vụ kế toán và các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam. Kiểm tra tình hình tuân thủ các quy định của chuẩn mực nghề nghiệp, chế độ kế toán và pháp luật kế toán liên quan của đối tượng được kiểm tra khi cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng. Việc kiểm tra thực hiện theo hình thức kiểm tra gián tiếp và kiểm tra trực tiếp (định kỳ hoặc đột xuất).

Thời hạn kiểm tra trực tiếp định kỳ: là 3 năm/lần đối với đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán mà trong 03 năm trước liền kề tính đến thời điểm kiểm tra có doanh thu dịch vụ kế toán từng năm trên báo cáo tài chính từ 20 tỷ đồng trở lên và mỗi năm có từ 100 khách hàng dịch vụ kế toán trở lên; Các đối tượng còn lại kiểm tra trực tiếp ít nhất 5 năm/lần. Ngoài ra, cơ quan chủ trì kiểm tra thực hiện việc kiểm tra đột xuất các đối tượng được kiểm tra để xác minh các đơn thư kiến nghị, phản ánh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và kiểm tra các thông tin có dấu hiệu vi phạm pháp luật được phát hiện trong quá trình quản lý, kiểm tra gián tiếp hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.

Phạm vi kiểm tra định kỳ hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán bao gồm tình hình tuân thủ pháp luật về dăng ký, duy trì điều kiện hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán và tình hình tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp, chế độ kế toán và pháp luật kế toán liên quan trong quá trình cung cấp dịch vụ kế toán của đối tượng được kiểm tra.

Việc kiểm tra dịch vụ kế toán là hoạt động quan trọng đối với cả cơ quan chức năng của nhà nước cũng như bản thân các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán. Một mặt, giúp cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quản lý dịch vụ kế toán, mặt khác, giúp cho đơn vị được kiểm tra dịch vụ kế toán chấn chỉnh công tác kế toán, nhằm đảm bảo tuân thủ luật pháp và cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng và các quyết định quản trị trong nội bộ doanh nghiệp. Góp phần nâng cao tính hữu ích của thông tin kinh tế, tài chính do kế toán cung cấp đáp ứng các yêu cầu ra quyết định của các đối tượng sử dụng./.

Tán Thị Miên Thảo

 

Tin tức khác cùng chuyên mục