Nâng cao tính minh bạch và khai thác hiệu quả thông tin hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

 Theo quy định tại Điều 61 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu, Bộ Tài chính có trách nhiệm công khai thông tin hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Cụ thể hơn, ngày 18/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Do đó, bài viết này sẽ đề cập một số nội dung về sự cần thiết phải minh bạch thông tin, kết quả và những hạn chế khi triển khai thực hiện Nghị định 81/2015/NĐ-CP và một số đề xuất nhằm nâng cao tính minh mạch, trách nhiệm giải trình của các bên có liên quan đối với hoạt động của DNNN cũng như hướng đến sử dụng hiệu quả hơn dữ liệu về DNNN.

Vì sao phải minh bạch thông tin hoạt động của DNNN?

Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ một lượng lớn vốn, tài sản của Nhà nước[1]; đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô, hoạt động trong những lĩnh vực mà khối tư nhân không tham gia hoặc do độc quyền tự nhiên; cung cấp những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, quan trọng đối với nền kinh tế. Do đó, công khai thông tin hoạt động của DNNN là một trong những công cụ hữu hiệu để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện giám sát việc thực thi các nhiệm vụ được Nhà nước giao và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước tại các doanh nghiệp này. Theo đó, việc công khai thông tin giúp chia sẻ, minh bạch hóa thông tin trong nội bộ doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan (ví dụ: người lao động; nhà đầu tư; đối tác kinh doanh; ...)

Đồng thời, Nhân dân là chủ sở hữu thực sự của doanh nghiệp nhà nước; cơ quan đại diện chủ sở hữu và những người có liên quan chỉ được ủy quyền để thực thi quyền sở hữu của Nhân dân đối với doanh nghiệp. Do đó, cần thiết phải công bố thông tin, giải trình để Nhân dân có cơ sở đánh giá, xác thực rằng các tổ chức, cá nhân được ủy quyền đại diện đang hành động vì lợi ích của Nhân dân và đang sử dụng có hiệu quả nguồn lực (trong đó có nguồn gốc từ tiền thuế của Nhân dân) được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc minh bạch thông tin đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn phải được thực thi trên cơ sở các cam kết quốc tế. Cụ thể, theo Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), với tư cách là một thành viên, Việt Nam có nghĩa vụ cung cấp cho các thành viên khác thông tin liên quan tới một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc một doanh nghiệp nhà nước độc quyền[2] (tỷ lệ cổ phần, doanh thu hàng năm, tổng tài sản trong 3 năm gần nhất, báo cáo tài chính hàng năm đã kiểm toán,..) với điều kiện yêu cầu đề nghị cung cấp phải đưa ra giải thích lý do tại sao hoạt động của doanh nghiệp đó có thể ảnh hưởng tới thương mại và đầu tư giữa các Bên.

Kết quả công bố thông tin và bất cập, hạn chế

Theo Nghị định 81/2015/NĐ-CP, các DNNN phải công bố công khai một số thông tin như: chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm và hàng năm của doanh nghiệp; báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và 3 năm gần nhất; báo cáo tài chính; báo cáo kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp; báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức; báo cáo tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp, báo cáo thông tin bất thường. Doanh nghiệp gửi báo cáo đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện công bố thông tin trên Cổng thông tin doanh nghiệp tại địa chỉ http://www.business.gov.vn.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư[3], số lượng DNNN thực hiện công bố thông tin từ năm 2016 đến nay như sau:

Số liệu thống kê cho thấy, sau 5 năm triển khai, bình quân giai đoạn 2016 - 2019 có khoảng 45% chưa thực hiện công khai thông tin. Như vậy, mặc dù theo quy định, người quản lý sẽ bị khiển trách hoặc cảnh cáo, doanh nghiệp bị xử phạt hành chính nếu không thực hiện công bố thông tin theo quy định, những chế tài hiện hành chưa đủ nặng để bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ.

Đối với các thông tin đã được công bố, tính đầy đủ, kịp thời, nhất quán của thông tin cũng chưa được quan tâm đúng mức. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một số DNNN thực hiện công bố thông tin còn mang tính hình thức; việc minh bạch thông tin tự nguyện chưa được thực hiện nghiêm túc; trách nhiệm công bố thông tin chưa được chú trọng; các cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa thực hiện đầy đủ công bố thông tin của các doanh nghiệp do mình làm đại diện chủ sở hữu theo quy định.

Các thông tin sẵn có không thuận lợi cho công tác thống kê; dữ liệu được công bố chưa được lưu trữ, cập nhật một cách có hệ thống để hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác tổng hợp, phân tích, dự báo. Trên thực tế, các thông tin được công bố bằng cách scan các báo cáo của doanh nghiệp sau đó upload lên hệ thống. Theo đó, các dữ liệu được thể hiện dưới định dạng pdf nhưng không thể chuyển đổi sang hình thức khác (word, excel) nên khi cần tổng hợp phải thực hiện thủ công. Khi dữ liệu chỉ được sử dụng cho mục đích công khai đơn thuần mà không được khai thác sử dụng cho các mục đích quản lý khác sẽ lãng phí nguồn tài nguyên về dữ liệu hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

Thiếu các báo cáo tổng hợp, đánh giá tổng quan về số lượng, tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù Chính phủ, Bộ Tài chính có báo cáo hằng năm về nội dung này nhưng không được lưu trữ, cập nhật một cách có hệ thống; chưa thực sự thuận lợi cho công chúng trong tiếp cận những thông tin này. Ví dụ, rất khó để tìm kiếm nguồn dữ liệu chính thức về số lượng doanh nghiệp nhà nước tại một thời điểm nhất định; các báo cáo tổng hợp thường niên về hoạt động của DNNN không phải lúc nào cũng được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Có sự chồng chéo, trùng lắp nhất định về thông tin doanh nghiệp phải công bố, báo cáo. Hiện nay, ngoài việc công khai thông tin theo Nghị định 81/2015/NĐ-CP, DNNN và doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước còn phải thực hiện cập nhật thông tin lên hệ thống thông tin quản lý tài chính doanh nghiệp trên website (http://soe.mof.gov.vn) do Bộ Tài chính theo dõi. Theo đó, thông tin tài chính phải cập nhật bao gồm báo cáo tài chính, các chỉ tiêu ngoại bảng, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tái cơ cấu doanh nghiệp. Các địa phương chỉ được phân quyền theo dõi, tổng hợp đối với các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý và không có quyền truy cập thông tin của các bộ, ngành, địa phương khác.

Định hướng nâng cao hiệu quả việc công bố và sử dụng thông tin hoạt động DNNN

Hiện nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định quy định việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước. Do đó, việc lấy ý kiến tham gia của các cơ quan, doanh nghiệp để sớm hoàn chỉnh, ban hành Nghị định thay thế Nghị định 81/2015/NĐ-CP sẽ góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên. Trong đó, cần lưu ý làm rõ hơn về các chế tài đối với trường hợp không thực hiện công bố thông tin đảm bảo theo quy định (nội dung, phương thức, thời gian, …)

Sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu thông tin về doanh nghiệp nhà nước theo hướng tích hợp các nguồn dữ liệu hiện có, tránh trùng lắp, giảm thời gian nhập liệu. Phát triển các hệ thống, phần mềm nhập liệu dùng chung để có thể chia sẻ dữ liệu thay vì yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện công bố, cập nhật thông tin lên nhiều hệ thống khác nhau. Các thông tin đăng tải phải thuận tiện cho truy cập và đảm bảo khả năng chuyển đổi được cho mục đích tổng hợp. Ví dụ, dữ liệu tài chính dưới dạng file pdf được chuyển đổi sang word hoặc excel. Đồng thời, các dữ liệu phải được công bố theo biểu mẫu thống nhất, đảm bảo tính nhất quán để làm cơ sở tổng hợp, so sánh, phân tích. Bên cạnh các thông tin chi tiết, các báo cáo tổng hợp định kỳ của cơ quan chuyên môn cũng cần được công bố công khai tại một chuyên mục để thuận tiện cho việc tra cứu.

Việc truy cập các thông tin tổng hợp cũng cần được phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành của các bộ, ngành, địa phương để có nguồn dữ liệu tham khảo. Ngoài ra, cũng cần tính đến khả năng cung cấp thông tin có thu phí cho các tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu để bổ sung nguồn kinh phí vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu. Trên thực tế, một số nước tiên tiến có quy định cho phép truy cập thông tin miễn phí ở một số nội dung; trường hợp cần cung cấp thông tin tổng hợp đòi hỏi thời gian xử lý của cơ quan chuyên môn thì phải trả phí.

Như vậy, mặc dù đã có các quy định khá cụ thể, việc triển khai trên thực tế đối với công bố thông tin hoạt động của DNNN còn nhiều điểm hạn chế. Do đó, cần thiết xác định việc rà soát, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước là việc làm thường xuyên để thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật hiện hành cũng như phù hợp với các thông lệ quốc tế./.



[1] Theo Báo cáo số 496/BC-CP ngày 10/10/2020 của Chính phủ, tính đến thời điểm 31/12/2019, tổng vốn Nhà nước đầu tư tại 491 DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tại 327 DN có cổ phần, vốn góp của Nhà nước lần lượt là 1.425.050 tỷ đồng và 177.132 tỷ đồng.

 

[2] Khái niệm DNNN theo CPTPP khác với định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2020, cụ thể: “DNNN là doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào các hoạt động thương mại và Nhà nước sở hữu hơn 50% vốn điều lệ; kiểm soát trên 50% quyền biểu quyết thông qua lợi ích chủ sở hữu; hoặc giữ quyền chỉ định đa số thành viên Ban quản trị hoặc bất kỳ bộ máy quản lý tương đương khác”.

 

[3] Dự thảo Tờ trình ban hành Nghị định của Chính phủ quy định việc công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp nhà nước (để thay thế Nghị định 81/2015/NĐ-CP).

Thái Quốc Khánh

Tin tức khác cùng chuyên mục