Chuyển đơn vị Sự nghiệp thành Công ty Cổ phần

 Ngày 13/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 1813/TTg-ĐMDN phê duyệt danh mục đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) thuộc UBND thành phố Đà Nẵng chuyển thành công ty cổ phần giai đoạn 2016-2020. Hiện nay đã có 02 đơn vị chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ đầu năm 2020 là Công ty CP Cầu đường Đà Nẵng và Công ty CP Chiếu sáng công cộng Đà Nẵng.

          Qua quá trình thực tiễn triển khai công tác cổ phần hóa các ĐVSNCL theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ còn vướng phải một số bất cập, lúng túng, cụ thể:

          - Đối với quy định xử lý số dư của các quỹ: Theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg chỉ có hướng dẫn xử lý các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi; chưa hướng dẫn xử lý một số nguồn kinh phí đặc thù của ĐVSNCL như: quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; nguồn thực hiện cải cách tiền lương tại đơn vị.
- Khó khăn khi xác định giá trị tài sản cố định: Hiện nay ĐVSNCL hạch toán theo chế độ kế toán quy định tại Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trong khi doanh nghiệp hiện thực theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014. Theo đó, việc ghi nhận tài sản cố định tại ĐVSNCL sẽ có nguyên giá từ 10 triệu đồng trở lên, còn đối với doanh nghiệp có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên, dẫn đến khó phân loại tài sản cố định trong quá trình chuyển đổi.
- ĐVSNCL cung cấp dịch vụ công ích được giao quản lý hầu hết tài sản là kết cấu hạ tầng (như: hệ thống điện chiếu sáng công cộng, cây xanh, cầu đường,…), nhưng chưa có hướng dẫn việc chuyển giao quản lý tài sản này khi ĐVSNCL chuyển thành công ty cổ phần, dẫn đến đơn vị lúng túng trong việc rà soát, phân loại tài sản thời điểm xác định giá trị, cũng như trong tham mưu đề xuất việc quản lý, sử dụng đối với tài sản là kết cấu hạ tầng.
          - Về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa, theo quy định hiện hành, tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tài sản và tối thiểu một phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật giá và thẩm định giá để trình cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định. Trong khi đó, theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg, khi xác định giá trị ĐVSNCL chỉ áp dụng phương pháp tài sản.
          - Tại Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg có quy định: “Trình tự, thủ tục và các nội dung liên quan đến việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần được thực hiện theo quy định tại Quyết định này; những nội dung không quy định tại Quyết định này thì thực hiện theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn hiện hành về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần”. Hiện nay, các văn bản dẫn chiếu này đều đã được sửa đổi, thay thế... tạo bất cập, khó khăn trong việc tra cứu, tham chiếu.
- Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg chưa quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp được chuyển đổi từ ĐVSNCL. Với đặc điểm các hoạt động sự nghiệp công ích có tính chất phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội; do đó khi chuyển từ ĐVSNCL thành công ty cổ phần, các doanh nghiệp có xu hướng xem nhẹ mục tiêu, chức năng xã hội của dịch vụ sự nghiệp công ích, dẫn đến không đảm bảo an ninh cung ứng dịch vụ công ích cho cộng đồng, xã hội.
          Ngày 25/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/2020/NĐ-CP về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021. Nghị định quy định chi tiết đối tượng và điều kiện mua cổ phần, phương thức bán cổ phần lần đầu, chi phí thực hiện chuyển đổi và thẩm quyền phê duyệt; xử lý tài chính khi chuyển đổi ĐVSNCL; xác định giá trị ĐVSNCL chuyển đổi; bán cổ phần lần đầu, quản lý sử dụng tiền thu từ chuyển đổi ĐVSNCL, bàn giao giữa ĐVSNCL chuyển đổi và công ty cổ phần... Một số điểm mới của Nghị định số 150/2020/NĐ-CP so với Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg:
          1. Các ĐVSNCL thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: (1) Tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư hoặc tự đảm bảo được chi thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi; (2) Còn vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và xác định lại giá trị đơn vị sự nghiệp công lập; (3) Thuộc danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ. Danh mục này không bao gồm các ngành, các lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành quy định không thực hiện chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần; (4) Có phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
          2. ĐVSNCL sau khi chuyển thành công ty cổ phần có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện việc cung cấp các loại dịch vụ sự nghiệp công trong thời gian tối thiểu 05 năm kể từ thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
          3. Xử lý về đất đai: Trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định công bố giá trị ĐVSNCL, phương án sử dụng đất của ĐVSNCL chuyển đổi phải được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai.
          4. Về xử lý số dư của các quỹ, nguồn kinh phí đặc thù khi chuyển đổi
          Số dư của Quỹ bổ sung thu nhập/Quỹ dự phòng ổn định thu nhập được chia cho người lao động đang làm việc theo Quy chế quản lý Quỹ của ĐVSNCL tối đa không quá 6 tháng lương thực hiện, phần còn lại được tính vào giá trị phần vốn nhà nước khi xác định giá trị ĐVSNCL. Số dư của Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tại thời điểm xác định giá trị ĐVSNCL được tính vào giá trị phần vốn nhà nước của ĐVSNCL chuyển đổi.
          Đối với phần kinh phí của Quỹ được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước cấp hoặc chênh lệch thu chi của ĐVSNCL thì được tính vào giá trị phần vốn nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập.
          Đối với số dư nguồn cải cách tiền lương: Đến thời điểm xác định giá trị, ĐVSNCL có số dư nguồn cải cách tiền lương thì được tính vào giá trị phần vốn nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập.
          5. Tại thời điểm ĐVSNCL chính thức chuyển thành công ty cổ phần, đối với các khoản nợ phải thu đã làm thủ tục đối chiếu nhưng vẫn chưa đối chiếu được thì phải xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường đối với tập thể, cá nhân có liên quan. Giá trị còn lại được hạch toán vào chi phí hoạt động của ĐVSNCL và chuyển giao hồ sơ cho Công ty Mua bán nợ Việt Nam để xử lý theo quy định của pháp luật.
          6. Về phương pháp xác định giá trị ĐVSNCL: Mỗi ĐVSNCL chuyển đổi phải được áp dụng tối thiểu 02 phương pháp xác định giá trị khác nhau trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trường hợp chỉ sử dụng 01 phương pháp, tổ chức tư vấn xác định giá trị phải báo cáo lý do.
          7. Giá trị của ĐVSNCL chuyển đổi (theo phương pháp tài sản) là tổng giá trị toàn bộ tài sản của đơn vị tại thời điểm xác định giá trị đơn vị sau khi đánh giá lại, trong đó bao gồm giá trị thương hiệu của đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có). (Quyết định 22/2015/QĐ-TTg quy định các ĐVSNCL không phải tính giá trị lợi thế kinh doanh (thương hiệu, tiềm năng phát triển) vào giá trị khi thực hiện chuyển đổi).
          8. Giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá 10.000 đồng/ cổ phần. (Quyết định 22/2015/QĐ-TTg quy định giá bán cổ phần ưu đãi bằng 60% giá đấu thành công thấp nhất hoặc bằng 60% giá bán thành công thấp nhất cho các nhà đầu tư chiến lược).
          Ngoài ra, Nghị định số 150/2020/NĐ-CP quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong tổ chức thực hiện chuyển đổi; trách nhiệm của doanh nghiệp chuyển đổi từ ĐVSNCL; về chế độ báo cáo, công khai, minh bạch thông tin và đăng ký, niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Lê Thảo Nguyên

Tin tức khác cùng chuyên mục