Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2019/NĐ-CP sửa đổi Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất

 Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2019/NĐ-CP sửa đổi Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
Ngày 26/10/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2019/NĐ-CP sửa đổi Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (có hiệu lực từ ngày 10/12/2019).

Để triển khai thực hiện Nghị định số 79/2019/NĐ-CP, UBND thành phố đã ban hành Công văn số 8617/UBND-STC ngày 20/12/2019 hướng dẫn và chỉ đạo các sở, ban, ngành, chính quyền địa phương triển khai thực hiện thông tin về chính sách nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất quy định tại Nghị định 79 trên các phương tiện thông tin đại chúng; thông báo cho những hộ gia đình, cá nhân nợ tiền sử dụng đất tái định cư biết về quy định thanh toán nợ tiền sử dụng đất theo chính sách mới của Chính phủ, đồng thời thông báo số tiền còn nợ đến từng hộ gia đình, cá nhân còn nợ tiền sử dụng đất biết về Nghị định 79 để thực hiện trả nợ tiền sử dụng đất.

Trong thời gian qua, sau khi Nghị định 79 có hiệu lực thi hành, nhiều hộ gia đình, cá nhân còn nợ tiền sử dụng đất tái định cư trên địa bàn thành phố đã tích cực thanh toán, nộp số tiền còn nợ vào ngân sách thành phố. Tuy nhiên còn nhiều hộ dân chưa có điều kiện trả nợ tiền sử dụng đất tái định cư theo quy định của Nghị định 79. Mặc khác, tình hình dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, thu nhập của người dân bị giảm sút, các hộ dân bị giải tỏa đền bù, nay lại càng khó khăn, khó có khả năng tích lũy để trả nợ tiền sử dụng đất tái định cư theo thời hạn quy định của Nghị định 79 (hạn cuối cùng theo quy định của Nghị định 79 là ngày 28/02/2021).

Theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: Các hộ gia đình cá nhân được Nhà nước giao đất tái định cư mà có khó khăn về tài chính, có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ tiền sử dụng đất phải nộp trên giấy chứng nhận sau khi có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất hoặc hồ sơ giao đất tái định cư hoặc có đơn xin ghi nợ khi nhận thông báo nộp tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, hiện nay theo Nghị định 79 thì đối tượng được nợ tiền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân gồm: người có công với cách mạng; hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn cấp xã được công nhận là địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được ghi nợ tiền sử dụng đất trong trường hợp được giao đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy so với Nghị định số 45/2014/NĐ-CP thì đối tượng được cho nợ tiền sử dụng đất tái định cư tại Nghị định 79 bị thu hẹp. Việc thu hẹp đối tượng áp dụng nêu trên đã ảnh hưởng đến các công tác giải tỏa đền bù bố trí tái định cư đối với các dự án, vì các đối tượng khác không được hưởng chính sách nợ tiền sử dụng đất. Một số hộ gia đình, cá nhân sau khi nhận tiền đền bù và nhận đất tái định cư không đủ tiền làm nhà nên rất khó khăn trong việc ổn định chỗ ở.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, nhằm hỗ trợ một phần khó khăn đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư trên địa bàn thành phố, UBND thành phố trình HĐND thành phố thống nhất chủ trương tại Nghị quyết số 309/NQ-HĐND ngày 08/7/2020, theo đó ngân sách thành phố ủy thác 250 tỷ đồng qua Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội thành phố để cho vay, trong đó: 200 tỷ đồng để các hộ dân còn nợ tiền sử dụng đất tái định cư vay trả nợ đúng thời hạn theo Nghị định số 79/2019/NĐ-CP của Chính phủ và 50 tỷ đồng để các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện giải tỏa nhưng không được nợ tiền sử dụng đất tái định cư theo Nghị định số 79/2019/NĐ-CP của Chính phủ vay xây nhà để ở.

Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Hội đồng nhân dân thành phố, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố, Sở Tài chính đã chủ trì phối hợp Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan trình UBND thành phố ban hành Quyết định số 3212/QĐ-UBND ngày 29/8/2020 về Quy chế quản lý và sử dụng nguồn kinh phí ngân sách thành phố uỷ thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho các hộ gia đình, cá nhân còn nợ tiền sử dụng đất tái định cư vay trả nợ đúng hạn và các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện giải tỏa, di dời nhà vay xây nhà để ở. Theo Quy chế này có một số nội dung chính như sau:

(1) Về đối tượng được vay

Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện giải tỏa, đền bù còn nợ tiền sử dụng đất tái định cư đã được ghi nợ trước ngày 01/3/2016 theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ vay để trả nợ tiền sử dụng đất trước ngày 01/3/2021 và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn đất ở, nhà ở nào khác (trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt). Không áp dụng đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã chuyển nhượng Phiếu bố trí đất tái định cư (phiếu phân lô) thông qua hình thức cam kết chuyển đổi tên.

Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện khi nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở nhưng không thuộc diện được nợ tiền sử dụng đất tái định cư theo quy định tại Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ; được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn đất ở, nhà ở nào khác; chỉ được bố trí 01 (một) lô đất tái định cư; có tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ thấp hơn hoặc bằng tiền sử dụng đất phải nộp cho 01 lô đất tái định cư đã được bố trí theo quy định, hoặc có tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ cao hơn tiền sử dụng đất phải nộp cho 01 lô đất tái định cư đã được bố trí theo quy định nhưng phần chênh lệch giữa giá trị bồi thường, hỗ trợ so với tiền sử dụng đất phải nộp thấp hơn mức cho vay tối đa nêu tại Điểm b, Khoản 1, Điều 6 không đủ để xây nhà ở thì được vay không quá phần chênh lệch thấp hơn đó so mức vay tối đa để xây nhà ở (trừ trường hợp đặc biệt được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt).

Các hộ gia đình, cá nhân nêu trên phải có tên trong danh sách đã được UBND các quận, huyện hoặc Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố xác nhận và cung cấp cho Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội (sau khi có ý kiến của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố xác nhận không còn đất ở, nhà ở nào khác).

(2) Về mức cho vay

Mức cho vay trả nợ tiền sử dụng đất tái định cư: Mỗi hộ gia đình, cá nhân được vay tối đa bằng với số tiền sử dụng đất tái định cư còn nợ ngân sách thành phố nhưng không quá 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay. Không bao gồm các khoản thuế và lệ phí phát sinh liên quan đến thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Mức cho vay xây nhà để ở: Mỗi hộ gia đình, cá nhân được vay tối đa bằng với giá trị dự toán hoặc phương án tính toán giá thành xây dựng nhà ở nhưng không quá 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay.

(3) Thời hạn vay

Trường hợp vay trả nợ tiền sử dụng đất tái định cư: Thời hạn cho vay tối đa không quá 10 năm kể từ ngày giải ngân. Thời hạn cho vay cụ thể đối với từng hộ gia đình, cá nhân vay được tính bằng tổng số tiền vay chia cho mức trả nợ hàng tháng. Mức trả nợ hàng tháng do NHCSXH nơi cho vay và khách hàng vay vốn thỏa thuận.

Trường hợp vay xây nhà để ở: Thời hạn cho vay tối đa không quá 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Thời hạn cho vay cụ thể đối với mỗi hộ gia đình, cá nhân vay được tính bằng tổng số tiền vay chia cho mức trả nợ hàng tháng. Mức trả nợ hàng tháng do NHCSXH nơi cho vay và khách hàng vay thỏa thuận.

(4) Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay trả nợ tiền sử dụng đất tái định cư là 4,8%/năm.

Lãi suất cho vay xây nhà để ở: Bằng với lãi suất cho vay ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (hiện nay là 4,8%/năm).

(5) Thực hiện bảo đảm tiền vay: Thực hiện bảo đảm tiền vay bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật.

Các nội dung khác như quy trình, thủ tục cho vay, giải ngân tiền vay...
chi tiết theo Quyết định số 3212/QĐ-UBND đính kèm tại đây
Trần Văn Tuấn
 
 

Tin tức khác cùng chuyên mục