Một số kết quả bước đầu thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18-11-2016 của Bộ Chính trị và dự báo kết quả đạt được giai đoạn 2016-2020

         Ngày 18-11-2016, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an tòan, bền vững. Để triển khai thực hiện chủ trương của Bộ chính trị. Để thực hiện chủ trương này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày 19/6/2017 và tại thành phố Đà Nẵng, Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 10-CTr/TU ngày 15/02/2017 và UBND thành phố có Công văn số 1272/UBND-KT1 ngày 25/02/2017 và Công văn số 5447/UBND-STC ngày 18/7/2017 triển khai thực hiện[1].
 
 
2. Một số kết quả đạt được
Sau thời gian thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tình hình thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách địa phương và công tác quản lý nợ công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chuyển biến hết sức tích cực, thể hiện ở một số chỉ tiêu đạt được như sau:
Một là,quy mô thu ngân sách nhà nước thu tăng lên rất cao so với giai đoạn trước; cơ cấu các nguồn thu hợp lý qua đó tạo tích lũy cho ngân sách để tăng chi đầu tư, trả nợ vay và thực hiện các chủ trương, chính sách nhân văn của thành phố, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh – trật tự trên địa bàn.
Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2019 là 98.000 tỷ đồng, gấp 1,6 lần tổng thu cả giai đoạn 2011-2015. Ước thu ngân sách nhà nước cả giai đoạn 2016-2020 tăng 2,1 lần tổng thu giai đoạn 2011-2015 (129.000 tỷ đồng/61.000 tỷ đồng), tốc độ tăng thu bình quân là 15%, vượt kế hoạch thành phố đề ra[2]; nếu không kể tiền sử dụng đất và thu xổ số kiến thiết thì thu nội địa tăng bình quân 18%.
 
 
 
Biểu đồ 01: Quy mô thu NSNN giai đoạn 2010-2020
(Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai ngân sách trên website của Sở Tài chính)
Cơ cấu giữa thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu trong thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng thu nội địa trừ đất và xổ số trong tổng thu nội địa đạt mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2016-2019, thu nội địa chiếm tỷ trọng 84%, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 15%. Ước cả giai đoạn 2016-2020 thì thu nội địa chiếm tỷ trọng 84,7%, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 14,8%.
 
 
Biểu đồ 02: Tỷ trọng các khoản thu trong tổng thu NSNN
(Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai ngân sách trên website của Sở Tài chính)
Cơ cấu thu NSNN ngày càng bền vững hơn theo hướng tăng tỷ trọng từ các nguồn thu từ sản xuất - kinh doanh. Tỷ trọng thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số trong tổng thu nội địa tăng từ mức 73,7% giai đoạn 2011 - 2015 lên 82,7% giai đoạn 2016 – 2019 (ước cả giai đoạn 2016-2020 là 84,5%). 
Tỷ trọng thu nội địa tăng do hoạt động sản xuất - kinh doanh của người nộp thuế có hiệu quả hơn, số lượng doanh nghiệp mới thành lập gia tăng, thành phố tiếp tục tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho sản xuất - kinh doanh phát triển thuận lợi. Bên cạnh đó thành phố đã triển khai quyết liệt Đề án “Chống thất thu thuế đối với một số lĩnh vực, ngành nghề có rủi ro cao về thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”[3] trong đó, tập trung vào các hoạt động kinh doanh bất động sản, nhà hàng, khách sạn, lữ hành, hộ khoán thuế[4].
Điều này có thể thấy rất rõ khi tỷ trọng nguồn thu của các lĩnh vực có có đóng góp chủ yếu từ các doanh nghiệp chiếm trên 70% tổng thu nội địa[5] (không kể đất và xổ số). Tốc độ tăng thu bình quân của lĩnh vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt tỷ lệ khá ấn tượng, cụ thể giai đoạn 2011-2015 lần lượt 23% và 29%; giai đoạn 2016-2020 lần lượt 25% và 28%.
 
 
Biểu đồ 03: Cơ cấu một số khoản thu của người nộp thuế 
(Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai ngân sách trên website của Sở Tài chính)
Hai là, về cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch theo hướng tích cực: Trong giai đoạn 2016-2020, bên cạnh việc cân đối bố trí chi đầu tư phát triển từ nguồn dự toán thu hằng năm, thành phố đã dành hầu hết các nguồn tăng thu, tiết kiệm chi hằng năm để tăng nguồn vốn phân bổ cho chi đầu tư phát triển[6]. Trong tổng chi ngân sách nhà nước[7]thì tỷ trọng chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên chiếm tỷ lệ phù hợp, đạt được mục tiêu đề ra[8] và quy mô ngày một tăng, bên cạnh đó thành phố cũng dành nguồn lực bổ sung quỹ dự trữ tài chính để đáp ứng các yêu cầu chi cấp bách theo quy định. Ước tổng chi đầu tư giai đoạn 2016-2020 chiếm tỷ trọng 49% trong tổng chi cân đối ngân sách, cao hơn nhiều so với tỷ trọng bình quân của cả nước[9], tỷ trọng chi thường xuyên 45%
.
 
 
Biểu đồ 04: Cơ cấu chi đầu tư, chi thường xuyên trong tổng chi cân đối
(Nguồn: Tính toán từ số liệu công khai ngân sách trên website của Sở Tài chính)
Ba là, tỷ lệ nợ công ở mức an toàn, nợ gốc và lãi được bố trí trả nợ đúng hạn.Đến hết năm 2019, số dư nợ vay ngân sách địa phương của thành phố ước đạt 12,54% so với mức dư nợ vay tối đa của ngân sách địa phương theo quy định[10] và dự kiến năm 2020 tỷ lệ mức dư nợ cuối kỳ so với mức dư nợ vay tối đa của ngân sách địa phương là 19,2%.
Trong các năm qua, thành phố chủ yếu thực hiện vay theo hình thức vay lại vốn Chính phủ vay nước ngoài để thực hiện các hạng mục của Dự án phát triển bền vững thành phố và dự kiến thực hiện Dự án Cải thiện hạ tầng giao thông, đã chủ động ưu tiên dành nguồn để trả nợ vay đến hạn đảm bảo an toàn tài khóa. Trong năm 2019 đã trả dứt điểm nợ gốc khoản vay phát hành trái phiếu chính quyền địa phương 1.100 tỷ đồng và nợ vay ngân hàng phát triển 27,5 tỷ đồng.
Bốn là, bên cạnh đó, công tác sắp xếp bộ máy và tinh giản biên chế được thực hiện đồng bộ, quyết liệt[11], qua đó giảm chi thường xuyên, tăng tích lũy để chi đầu tư cho ngân sách.
Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thành phốban hànhĐề án tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức thuộc thành phố, theo đó thực hiện đến 2021 tinh giản 10% biên chế công chức và số lượng người làm việc so với năm 2015. Đồng thời, phê duyệt Đề án tinh giản biên chế của 22 sở ngành, 07 quận, huyện và 05 đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND thành phố, chủ động nguồn biên chế để tinh giản theo lộ trình đến năm 2021.Tổng số biên chế công chức phải tinh giản đến năm 2021 là 206 chỉ tiêu. Theo đó, từ năm 2015 đến năm 2020 thành phố đã cắt giảm tổng cộng 176 biên chế công chức theo số giao của Bộ Nội vụ (năm 2015 giảm 36 biên chế, năm 2017 giảm 30 biên chế, năm 2018 giảm 30 biên chế, năm 2019 giảm 41 biên chế, năm 2020 giảm 39 biên chế).
Ở khối sự nghiệp công lập, tổng số biên chế sự nghiệp tối thiểu phải tinh giản đến năm 2021 là 1.974 chỉ tiêu. Do chuyển sang cơ chế tự chủ, cơ chế đặt hàng và thực hiện thu hồi theo lộ trình tinh giản biên chế nên số lượng người làm việc tại các đơn vị tính đến năm 2020 giảm 2.124 người so với năm 2015, như vậy tỉ lệ tinh giản đến năm 2020 của thành phố so với năm 2015 là 10,76% (cao hơn mức tối thiểu là 10% theo quy định).
Từ năm 2015 đến năm 2019, thành phố đã giải quyết tinh giản cho 434 trường hợp nghỉ theo chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ (không bao gồm số liệu của khối Đảng).
 
 
3. Một số biện pháp trong thời gian đến
Để thực hiện tốt chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công trong thời gian đến trên địa bàn thành phố, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp như sau:
Một là, về công tác thu ngân sách nhà nước: Tiếp tục triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến dự án đầu tư; thực hiện các giải pháp để cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Tập trung hỗ trợ, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp[12].
Đánh giá hiệu quả Đề án chống thất thu, qua đó, rà soát, điều chỉnh bổ sung các giải pháp phù hợp, hiệu quả trong chống thất thu trên lĩnh vực du lịch, dịch vụ, kinh doanh bất động sản. Tập trung triển khai công tác thu nợ tiền sử dụng đất theo quy định mới tại Nghị định số 79/2019/NĐ-CP ngày 26/10/2019 của Chính phủ và triển khai của UBND thành phố tại Công văn số 8617/UBND-STC ngày 20/12/2019.
Thu hồi kịp thời số tiền thuế, tiền phạt phát hiện qua thanh tra, kiểm tra, kiểm tra thuế và các khoản phải thu theo kiến nghị của cơ quan kiểm toán, kết luận của cơ quan thanh tra.Rà soát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đối với các nội dung còn lại theo Kết luận 2852/KL-TTCP ngày 02/11/2012 của Thanh tra Chính phủ.
Hai là, về công tác chi ngân sách và quản lý nợ công: Thực hiện đồng bộ các giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công theo kế hoạch đề ra, khắc phục tình trạng hủy dự toán, chuyển nguồn vốn đầu tư công sang các năm tiếp theo.Thực hiện nghiêm túc các chủ trương của trung ương về cơ cấu lại đầu tư công. Đối với các nguồn vốn vay để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải được kiểm soát một cách chặt chẽ về mục tiêu, hiệu quả đầu tư, kế hoạch trả nợ. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; kiên quyết không sử dụng vốn vay cho các mục đích và dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế - xã hội thấp hoặc không rõ ràng. Tập trung nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư các công trình trọng điểm, có sức lan tỏa lớn. Nghiêm túc quán triệt tinh thần không vay vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng với bất cứ giá nào.
Không bố trí dự toán chi cho các chính sách chưa ban hành; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện công khai, minh bạch ngân sách theo đúng quy định của pháp luật.
Ba là, tiếp tục triển khai thực hiện Đề án tinh giản biên chế; triển khai công tác rà soát, sắp xếp lại bộ máy, các đơn vị sự nghiệp công lập, đảm bảo tiến độ hoàn thành cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện đã được phê duyệt giai đoạn 2016-2020; tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập gắn với thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Bốn là, tiếp tục kiến nghị đối với các cơ quan Trung ương xem xét giữ tỷ lệ điều tiết các khoản thu giai đoạn 2021-2025 ở mức hợp lý để thành phố có đủ nguồn lực thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24-01-2019 của Bộ Chính trị.


[1] Trong Chương trình hành động của thành phố đề ra thì phấn đấu tổng thu ngân sách giai đoạn 2016-2020 bằng khoảng 1,8 lần giai đoạn 2011 – 2015, trong đó thu nội địa bằng 1,9 lần (tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt tối thiểu 12%/năm). Trong tổng thu ngân sách nhà nước, tỉ trọng thu nội địa khoảng 84 - 85%, tỉ trọng thu xuất nhập khẩu khoảng 15 - 16%; trong thu nội địa, tỉ trọng thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác chiếm trên 80%; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách thành phố để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trên địa bàn, tích lũy nguồn để trả nợ vay đến hạn. Trong tổng chi ngân sách nhà nước, tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35 - 40%; tỉ trọng chi thường xuyên dưới 60%; ưu tiên bảo đảm chi trả nợ đến hạn…
[2] Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra tăng ít nhất là 12%.
[3] Quyết định 2315/QĐ-UBND ngày 07/6/2018 của UBND thành phố.
[4] Tập trung kiểm tra hồ sơ quyết toán thuế TNDN năm 2018 của các doanh nghiệp nhà hàng, khách sạn, trung tâm tiệc cưới đã đưa vào diện giám sát đặc biệt; doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, bất động sản...; tiến hành rà soát hồ sơ khai thuế của các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro, nghi vấn; doanh nghiệp được hưởng ưu đãi, miễn, giảm thuế TNDN và doanh nghiệp có giao dịch liên kết; khai thác nguồn thu, quản lý thu đối với một số lĩnh vực như cho thuê nhà, mặt bằng, cho thuê căn hộ, xây dựng tư nhân, xây dựng ngoại tỉnh, bán hàng qua mạng...
[5] Lĩnh vực thu doanh nghiệp nhà nước (8,6%), thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (25,5%), Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (27,9%), thuế thu nhập cá nhân (10,7%).
[6] Năm 2020, nguồn tăng thu, tiết kiệm chi cân đối trong dự toán chi đầu tư là 6.689,6 tỷ đồng.
[7] Không kể chi chuyển nguồn, chi chuyển giao giữa các cấp ngân sách địa phương và loại trừ các chỉ tiêu chi từ nguồn thu để lại chi qua ngân sách để thống nhất trong so sánh số liệu).
 
[8] Thành phố đề ra mục tiêu: Trong tổng chi ngân sách nhà nước (Không kể chi chuyển nguồn, chi chuyển giao giữa các cấp ngân sách địa phương) thì tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35 - 40%; tỉ trọng chi thường xuyên dưới 60%.
[9] Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9-11-2016 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 có đề ra mục tiêu: Từng bước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển chiếm bình quân khoảng 25-26% tổng chi ngân sách nhà nước; giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống dưới 64% tổng chi ngân sách nhà nước; ưu tiên bảo đảm chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia.
[10] Hạn mức dư nợ vay tối đa của NSĐP được xác định bằng 40% số thu NSĐP được hưởng theo phân cấp theo quy định tại Nghị định số 144/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 của Chính phủ (số thu NSĐP được hưởng để tính hạn mức dư nợ không bao gồm thu kết dư NSĐP theo quy định tại Điểm d Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP).
[11] Nguồn số liệu tham khảo báo cáo của Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng.
[12] Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến dự án đầu tư, hoàn thành thủ tục chuẩn bị đầu tư và triển khai các dự án đã trao Thông báo nghiên cứu đầu tư tại Tọa đàm Mùa Xuân năm 2019 như Dự án Khu tổ hợp công trình phục vụ Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng, dự án Khu công nghệthông tin Đà Nẵng Bay...
 
Trần Văn Tuấn

Tin tức khác cùng chuyên mục