Chỉ số giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ và chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu Quý 2 năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2019

Chỉ số giá sản xuất quý II/2019 so với quý trước giảm đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhưng tăng tại 2 khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Chỉ số giá sản xuất (PPI) là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và đo lường mức độ biến động giá bán của các nhà sản xuất thời kỳ này so với thời kỳ khác. Chỉ số giá sản xuất được Tổng Cục thống kê bắt đầu công bố định kỳ hàng quý từ năm 2015, bao gồm chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp, chỉ số giá sản xuất dịch vụ và chỉ số giá sản xuất xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Theo Tổng Cục thống kêchỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2019 giảm 1,36% so với quý trước, trong đó chỉ số giá nhóm sản phẩm nông nghiệp giảm 1,89% là nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2019 giảm so với quý trước; ở chiều ngược lại, có hai nhóm sản phẩm có chỉ số giá tăng: nhóm sản phẩm thủy sản tăng 0,13% và nhóm sản phẩm lâm nghiệp tăng 0,09%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2019 tăng 1,34% so với quý trước, trong đó nhóm sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 7,08% tăng theo xu hướng của giá dầu thế giới; nhóm sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,44%; nhóm sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,95% do ảnh hưởng của nắng nóng mức tiêu thụ điện tăng góp phần làm chỉ số giá nhóm dịch vụ truyền tải điện và phân phối điện tăng cao; nhóm sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 0,01% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã điều chỉnh giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt, giá dịch vụ thoát nước và thu gom rác thải như: Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Tiền Giang.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2019 tăng 0,39% so với quý trước, trong đó dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,35%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 0,7%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 0,49%.
Những nguyên nhân làm tăng chỉ số giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ:
- Nhóm sản phẩm dệt và nhóm sản phẩm trang phục tiếp tục tăng do các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã có hiệu lực kèm theo tác động từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tạo sức hút lớn về đơn hàng cho ngành dệt may. Bên cạnh đó, nguyên liệu sản xuất như bông dùng để dệt sợi, vải và chi phí nhân công tăng góp phần làm tăng giá nhóm ngành sản phẩm dệt may.
- Giá các tour du lịch trong nước và ngoài nước tăng dquý II/2019 có ngày nghỉ lễ 30/4 và 1/5 kéo dài và học sinh nghỉ hè nên nhu cầu các tour du lịch tăng, giá dịch vụ lưu trú tăng ở phân khúc hạng sang và hạng trung bình do lượng khách du lịch quốc tế tăngGiá dịch vụ ăn uống tăng do giá nguyên liệu đầu vào của các mặt hàng rau củ quả, thủy hải sản tăng.
- Giá cước vận tải tăng do các doanh nghiệp đã điều chỉnh giá vận tải linh hoạt để phù hợp với giá nguyên liệu đầu vào.
-Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo 6 tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước.
- Giá mặt hàng quả ớt tươi tăng cao do diện tích trồng ớt giảm, trong khi đó nhu cầu thu mua xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và Malaysia tăng mạnh.
Giá quả chứa dầu (quả dừa khô) tăng do trái vụ sản lượng quả dừa khô giảm, nhu cầu thu mua quả dừa khô tăng để chế biến các sản phẩm thạch dừa, nước cốt dừa trong dịp nắng nóng kéo dài trên phạm vi cả nước.
Một số nguyên nhân tác động làm giảm chỉ số giá sản xuất hàng hóa:
Ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi nên giá bán thịt lợn hơi bình quân cả nước quý II/2019 dao động khoảng 28.000 đồng/kg - 37.000 đồng/kg. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 25/6/2019, dịch tả lợn Châu Phi bùng phát tại 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với đàn lợn bị tiêu hủy khoảng 2,82 triệu con (bằng 10% tổng đàn lợn cả nước). Dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp và chưa có dấu hiệu dừng lại, một số địa phương đã công bố hết dịch nhưng bùng phát trở lại như: Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa,... Đặc biệt, do tâm lý lo sợ dịch bệnh, nhiều hộ nông dân bán lợn chạy dịch với số lượng lớn khiến nguồn cung thịt lợn hơi tăng và giá thịt lợn hơi giảm.
Giá hạt điều giảm do nguồn cung dồi dào và hạt điều vào cuối vụ thu hoạch, thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng hạt điều; xuất khẩu hạt điều gặp nhiều khó khăn.
Giá hồ tiêu giảm nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung hồ tiêu trong nước và thế giới dồi dào trong khi nhu cầu tiêu thụ không tăng.
Chỉ số giá xuất khẩu giảm, chỉ số giá nhập khẩu tăng
Quý II/2019 so với quý trước, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa giảm 0,36% trong đó, giảm nhiều ở nhóm gạo giảm 3,86% và cà phê giảm 2,46%. Có 6 nhóm hàng giá không đổi so với quý trước gồm hóa chất, chất dẻo, mây tre, đồ chơi, dụng cụ thể thao, sản phẩm gốm sứ và nhóm thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh và tăng nhiều nhất là các nhóm: máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 9,02%, quặng và khoáng sản tăng 6,92%, cao su tăng 4%.
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,31% trong đó, tăng nhiều nhất là các nhóm: xăng dầu các loại tăng 6,99%; khí đốt hóa lỏng tăng 6,01%; lúa mì tăng 4,8%; hàng rau quả tăng 3,33%. Giảm nhiều ở nhóm hàng nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 1,87%; giấy giảm 1,63%; dây điện và dây cáp điện giảm 1,61%; hóa chất giảm 1,57%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,2%. Có 6 nhóm hàng không biến động so với quý trước là dược phẩm; bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc; than đá; ô tô nguyên chiếc các loại; linh kiện phụ tùng ô tô; xe máy, linh kiện và phụ tùng.
Nguyên nhân tác động làm giảm chỉ số giá xuất nhập khẩu hàng hóa:
- Giá gạo xuất khẩu giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm ở hầu hết các thị trường, đặc biệt Trung Quốc đang thắt chặt hoạt động nhập khẩu gạo Việt Nam.
Giá cà phê xuất khẩu giảm theo giá cà phê thế giới do sản lượng cà phê thu hoạch ở Brazil được dự báo tăng 2% so với cùng niên vụ năm ngoái.
- Giá phân bón giảm, nhu cầu nhập khẩu phân bón thấp do hết vụ Xuân, vụ Hè Thu chưa đến.
Một số nguyên nhân tác động làm tăng chỉ số giá xuất nhập khẩu hàng hóa:
- Giá dầu thô trên thế giới tăng ảnh hưởng đến giá dầu tinh chế trong nước. Thị trường xăng dầu chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, chính trị của các nước như: cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp tục kéo dài, căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn, như: Mỹ với EU và Canada; căng thẳng chính trị ở khu vực Trung Đông, nỗ lực cắt giảm sản lượng dầu thô của OPEC và các nước thành viên.
- Thị trường xuất khẩu cây gỗ keo sang Trung Quốc tăng; nhu cầu sử dụng các sản phẩm khai thác từ gỗ, sản xuất đồ gỗ, đồ dùng trong gia đình và xây dựng tăng, trong đó sản lượng khai thác các sản phẩm lâm nghiệp chưa đủ cung ứng cho thị trường.
- Giá sắt, thép tăng 0,78% do ảnh hưởng của giá quặng sắt đang ở mức cao kỷ lục trong gần 5 năm qua. Việc đập chứa chất thải của tập đoàn khai khoáng Vale của Brazil vỡ khiến hàng loạt cơ sở khai thác khác phải đóng cửa, đã ảnh hưởng nguồn cung quặng sắt trên thế giới.
Giá thủy sản xuất khẩu tăng do tăng trưởng của hai nhóm mặt hàng cá tra và tôm. Các mặt hàng thủy sản của Việt Nam đang được hưởng lợi từ các chính sách thuế quan ở các thị trường lớn như Trung Quốc và Nhật Bản. Cụ thể, Trung Quốc đã phê duyệt 33 mặt hàng thủy sản được miễn thuế vào nước này, trong đó có những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, như cá tra, các basa và tôm. Với thị trường Nhật Bản, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực đã mở đường cho thủy sản Việt Nam tiến sâu thêm vào thị trường nước này.
Tỷ giá thương mại hàng hóa quý II/2019 giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá thương mại hàng hóa phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa giá hàng xuất khẩu với giá hàng nhập khẩu của quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Tỷ giá thương mại quý II/2019 giảm 0,66% so với quý I/2019 điều này phản ánh giá hàng nhập khẩu có lợi thế hơn so với giá hàng xuất khẩu.

Tin tức khác cùng chuyên mục