Về tình hình triển khai thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công

         Vốn đầu tư toàn xã hội nói chung và vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố. Trong công tác giải ngân vốn đầu tư, UBND thành phố, các cơ quan đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy giải ngân vốn xây dựng cơ bản. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là nguyên nhân chủ quan dẫn đến tỷ lệ giải ngân vốn xây dựng cơ bản không đạt kết quả như mong muốn.
Để nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn xây dựng cơ bản năm 2019 và các năm tiếp theo, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của thành phố, đảm bảo tốc độc tăng bình quân GRDP trên 12%/năm như mục tiêu của Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị đã đề ra, thì cần những giải pháp quyết liệt hơn trong công tác này, trong đó các chủ đầu tư, các đơn vị điều hành, quản lý dự án có vai trò quyết định.
 
 
Tình hình triển khai kế hoạch đầu tư công năm 2019
1. Công tác chỉ đạo thực hiện: UBND thành phố đã có những chỉ đạo và biện pháp hết sức quyết liệt. Đặcbiệt, thành phố đã ban hành Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 và Quyết định số 852/QĐ-UBND ngày 21/02/2019, trong đó: quy định cụ thể các mốc thời gian từ khâu quy hoạch đến hoàn thành, bàn giao công trình đưa vào sử dụng các công trình trọng điểm, động lực; giao nhiệm vụ cho các đơn vị, quy định cụ thể các tỷ lệ giải ngân, đấu thầu, chế tài xử lý đối với các đơn vị không hoàn thành kế hoạch;…
Thành phố đặt ra chỉ tiêu phấn đấu đến 30/6/2019 giải ngân phải đạt 35% kế hoạch vốn được giao; Đến 31/10/2019 đạt tỷ lệ 70% kế hoạch; cả năm 2019 đạt tỷ lệ trên 90% kế hoạch. Đơn vị, UBND các quận, huyện không đạt tỷ lệ giải ngân này thì thực hiện điều chuyển nhiệm vụ quản lý dự án và không giao nhiệm vụ chủ đầu tư, quản lý dự án mới. Đối với các quận, huyện, cắt giảm vốn ngân sách thành phố bố trí năm 2019 và năm 2020.
Thành phố tổ chức phân công các Phó Chủ tịch theo dõi, trực tiếp chỉ đạo từng dự án nhằm đôn đốc, kịp thời xử lý các vướng mắc để đảm bảo tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Đồng thời, phụ trách các dự án đền bù giải tỏa theo địa bàn, hàng tháng các Phó Chủ tịch tổ chức họp, kiểm tra thực tế các dự án phụ trách để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh. Hàng quý, Phó Chủ tịch UBND thành phố họp đôn đốc tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2019.
 
 
2. Tình hình giải ngân kế hoạch đầu tư công
Đến 30/6/2019 giải ngân vốn trong nước của kế hoạch năm 2019 đạt khoảng 21% kế hoạch(không kể dự nguồn chưa phân bổ cho các dự án và nguồn năm trước chuyển sang), trong đó: Vốn cân đối ngân sách địa phương đạt 16,4%; Ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu: đạt 93% kế hoạch giao. Đối với những dự án mang tính động lực, trọng điểm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách. Có hơn 20 dự án có bố trí vốn nhưng đến nay đang trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ chưa phát sinh khối lượng giải ngân (khả năng đến cuối năm sẽ đạt tỷ lệ rất thấp).
Như vậy, tình hình giải ngân đến 30/6/2019 đạt tỷ lệ thấp. Để hoàn thành được kế hoạch đã đề ra theo Quyết định số 852/QĐ-UBND (đến 31/10/2019 đạt tỷ lệ 70%, cả năm đạt trên 90%) đòi hỏi phải có sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, đơn vị có liên quan để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác này. Trong đó, phải nâng cao năng lực điều hành dự án của các chủ đầu tư, các ban quản lý là quan trọng nhất.
 
 
4. Những khó khăn, vướng mắc nguyên nhân
 
 
4.1.Các nguyên nhân khách quan
 
 
(1) Do không nhất quán giữa các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng, trong đó vướng mắc chung làm chậm tiến độ giải ngân các công trình đó là:Theo quy định Luật Đầu tư Công, Luật Xây dựng thì việc thẩm địnhthiết kế kỹ thuật, lập thiết kế bản vẽ thi công, lập dự toán của dự án chỉ thực hiện khi có bố trí vốn thực hiện dự án. Tuy nhiên kế hoạch vốn hàng năm được giao vào tháng 12 năm trước nên sau khi có kế hoạch vốn thực hiện đầu tư được giao thì các dự án mới đủ điều kiện trình, duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán và triển khai công tác lựa chọn nhà thầu thi công công trình dẫn đến chậm khởi công công trình (thường thời gian này từ 6 - 9 tháng). Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc các công trình thường khởi công vào mùa mưa và kéo theo chậm giải ngân kế hoạch vốn được giao.
(2) Về phê duyệt chủ trương đầu tư đối với các dự án nhóm B, C trọng điểm theo quy định tại Nghị định 120/2018/NĐ-CP thuộc thẩm quyền HĐND thành phố, nên đến kỳ họp HĐND thành phố mới phê duyệt (thông thường HĐND thành phố họp 2 kỳ/năm), quy định này đã làm kéo dài thời gian thực hiện chuẩn bị đầu tư của dự án, mặt khác sẽ dồn hồ sơ thẩm định đến các cơ quan chuyên môn sau thời điểm kỳ họp.
(3) Một số dự án được bố trí kế hoạch vốn đền bù giải tỏa nhưng không giải ngân được do các hộ dân không chịu nhận tiền đền bù, không bàn giao mặt bằng do còn tranh chấp; một số dự án các hộ dân nhận tiền đền bù nhưng KBNN không thanh toán được do tổng chi phí đền bù giải tỏa được duyệt vượt tổng mức đầu tư phê duyệt dự án, hoặc trong tổng mức đầu tư không phê duyệt chi phí đền bù, hoặc tổng giá trị phê duyệt đền bù, hỗ trợ lớn hơn tổng mức bồi thường thiệt hại đã được phê duyệt tại phương án bồi thường. 
 
 
4.2.Các nguyên nhân chủ quan
(1) Mặc dù có quy định, nhưng các đơn vị chưa thực hiện nghiêm việc chấm dứt, xử phạt hợp đồng theo quy định của pháp luật và những điều khoản ký kết trong hợp đồng đối với các nhà thầu chậm trễ tiến độ và xử lý chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo quy định cụ thể tại điều 146 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13.
(2)Năng lực của một số đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu thi công còn hạn chế do cùng lúc tham gia nhiều công trình, dự án, chưa phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư và các đơn vị liên quan khi thực hiện hợp đồng.
(3) Năng lực của các chủ đầu tư, đơn vị quản lý dự án còn hạn chế dẫn đến việc hoàn thành hồ sơ thủ tục còn chậm, chưa chủ động phối hợp các Sở, ngành, địa phương để xử lý hồ sơ, nhất là công tác giải phóng mặt bằng.
(4) Công tác giải tỏa đền bù vẫn còn chậm, nhất là các khu vực thiếu đất tái định cư, bên cạnh đó giá đất thị trường nhiều thời điểm tăng đột biến làm ảnh hưởng đến công tác vận động giải tỏa..., dẫn đến chậm bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công.
(5)Các công trình có quy mô đầu tư lớn, Sở, ngành và các Ban quản lý dự án không lường hết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai lập dự án, nên phải điều chỉnh, bổ sung thiết kế, dự toán nhiều lần cho phù hợp với thực tế; phải phối hợp với nhiều đơn vị để đảm bảo phù hợp với nhu cầu của đơn vị sử dụng.
5. Những nhiệm vụ, giải pháp và giải pháp chủ yếu: Qua phân tích danh mục dự án đã được phân bổ vốn thì các dự án chuyển tiếp hoàn thành sau năm 2019 và các dự án khởi công mới năm 2019 chiếm tỷ trọng lớn 69%. Như vậy, để đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn đầu tư thì cần tập tập trung các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp trong năm 2019, đồng thời kịp thời xử lý các vướng mắc để đẩy nhanh các thủ tục đầu tư đối với các công trình khởi công mới, cụ thể một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:
5.1. Đối với các cơ quan, đơn vị của thành phố: Các cơ quan, đơn vị phải bám sát các nội dung đã được UBND thành phố chỉ đạo, trong đó cần quán triệt, không điều chỉnh tiến độ thực hiện các công trình, dự án đã cam kết theo Quyết định số 852/QĐ-UBND, yêu cầu các Ban QLDA có giải pháp rút ngắn các công việc đã chậm trễ nhằm đảm bảo triển khai các công việc tiếp theo theo đúng tiến độ đã phê duyệt không điều chỉnh tiến độ thực hiện các công trình, dự án đã cam kết. Đồng thời tiếp tục tập trung vào các biện pháp cụ thể như sau:
(1) Đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp, nhất là các công trình dự kiến hoàn thành trong năm 2019. Đối với các công trình khởi công mới, nhất là các công trình động lực, trọng điểm, các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thiện các các thủ tục đầu tư, đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, khởi công công trình, hoàn thiện hồ sơ tạm ứng, thanh toán theo quy định.
(2) Nâng cao năng lực ký kết hợp đồng và điều hành dự án của các Chủ đầu tư, đơn vị điều hành dự án, trong đó: Các Chủ đầu tư, đơn vị điều hành dự án yêu cầu nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công lập kế hoạch tiến độ thi công chi tiết, cam kết tập trung nhân lực, nguồn lực triển khai thi công đúng tiến độ đề ra; đồng thời đưa nội dung này vào hợp đồng với nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công để giám sát, quản lý. Từ đó, thực hiện chấm dứt và xử phạt hợp đồng theo điều khoản ký kết trong hợp đồng đối với các nhà thầu chậm trễ tiến độ và chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo quy định cụ thể tại điều 146 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13.
Kiên quyết xử lý nghiêm và thay thế kịp thời các tổ chức, cá nhân cố tình cản trở, gây khó khăn, yếu kém về năng lực trình độ làm chậm trễ tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư XDCB.
(3) Các chủ đầu tư, Ban quản lý, điều hành dự án phải thường xuyên bám sát tiến độ, chủ động phối hợp các cơ quan liên quan để xử lý các hồ sơ, thủ tục và kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc. Rà soát các thủ tục để triển khai song song nhằm rút ngắn thời gian hoàn thiện hồ sơ. Nhất là, phối hợp chặt chẽ với UBND các quận, huyện để có kế hoạch chi tiết giải tỏa đền bù, tập trung cho những khu vực đang triển khai thi công và phù hợp với tiến độ thi công công trình.
(4) Tiếp tục rà soát, điều chuyển vốn những công trình không có khả năng giải ngân hết kế hoạch để bổ sung cho các công trình đã có quyết toán, có khối lượng hoàn thành, công trình cần đẩy nhanh tiến độ.
(5) Chủ động tham mưu Thường trực HĐND thành phố có kế hoạch tổ chức cuộc họp HĐND bất thường để xem xét, thông qua chủ trương đầu tư các dự án nhóm B, C trọng điểm. Đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư trước 31/10/2019 để làm cơ sở bố trí vốn triển khai năm 2020.
5.2. Kiến nghị đối với trung ương (Đây là giải pháp lâu dài): Tiếp tục kiến nghị với trung ương để tháo gỡ các vướng mắc, bất cập, không nhất quán giữa Luật đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đất đai (số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013), Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đấu thầu, Nghị định số 120/2018/NĐ-CP[1], Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính... làm kéo dài thời gian thực hiện dự án.
Quy trình, thủ tục xây dựng cơ bản theo Luật Đầu tư công phức tạp. Thường phải đến đầu Quý III hàng năm các dự án mới hoàn thành các thủ tục để triển khai thi công, giải ngân. Do đó, về lâu dài, trong trường hợp các quy định còn vướng mắc nêu trên chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời thì các quan, đơn vị có liên quan của thành phố phải chủ động phối hợp với nhau để tháo gỡ các vướng mắc, nhất là làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư (đặc biệt là các dự án lớn) để khi bố trí vốn sẽ chủ động triển khai thực hiện.
 
 
Tóm lại, mặc dù các cấp, các ngành của thành phố đã triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công, tuy nhiên kết quả đến thời điểm hiện nay vẫn chưa đạt tiến độ đã đề ra. Để khắc phục tình trạng “có tiền mà không tiêu được” trong năm 2019 và các năm tiếp theo, đòi hỏi phải có sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, đơn vị để tháo gỡ các khó khăn trong công tác này.
                                                          (Trần Văn Tuấn – Phòng Quản lý ngân sách)


[1]Tại Nghị định số 120/2018/NĐ-CP ngày 13/9/2018 của Chính phủ quy định: “Đối với vốn chuẩn bị đầu tư hoặc dự án chuẩn bị đầu tư, phải có quyết định cho phép chuẩn bị đầu tư và dự toán chuẩn bị đầu tư của cấp có thẩm quyền quyết định đến ngày 31 tháng 10 của năm trước năm kế hoạch.”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục phê duyệt quyết định cho phép chuẩn bị đầu tư và dự toán chuẩn bị đầu tư: định mức chi phí lập, thẩm định Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; phương pháp xác định chi phí chuẩn bị đầu tư khi chưa có quy mô và tổng mức đầu tư dự án; thành phần, nội dung hồ sơ trình thẩm định, thẩm quyền quyết định dự toán chuẩn bị đầu tư dự án.
 

Tin tức khác cùng chuyên mục