Một số quy định mới về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Doanh nghiệp

          Việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày15/11/2012 trên cơ sở Luật Doanh nghiệp năm 2005.

          Sau khi Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13); trong đó, Khoản 4 Điều 42 Luật số 69/2014/QH13 có giao Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Phần lớn nội dung thực hiện quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu đã được quy định đầy đủ tại Điều 42 nêu trên, tuy nhiên chưa có quy định rõ ràng về việc xác định chủ thể là cơ quan đại diện chủ sở hữu; chưa có quy định hướng dẫn đầy đủ và thống nhất về thực hiện quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc phê duyệt chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh; việc đăng ký thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao doanh nghiệp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH hai thành viên trở lên… Theo đó, ngày 30 tháng 01 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2019/NĐ-CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước thay thế Nghị định số 99/2012/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2019. Đây là một trong những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp nắm giữ nguồn lực rất lớn của đất nước.

          Nghị định gồm 3 Chương, 17 Điều quy định mới về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và xác định các loại hình cơ quan đại diện chủ sở hữu; tổ chức thực hiện các quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu được quy định tại Khoản 4 Điều 42 Luật số 69/2014/QH13. Trong đó, quy định đối tượng áp dụng là đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; không còn khái niệm người đại diện theo ủy quyền tại doanh nghiệp như quy định tại Nghị định 99/2012/NĐ-CP. Đồng thời, quy định cụ thể các cơ quan đại diện chủ sở hữu là: (i) Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ; (ii) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp do Bộ, UBND cấp tỉnh quyết định thành lập; (iii) Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp được chuyển giao từ các Bộ, UBND cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ.

          Nghị định tập trung hướng dẫn những vấn đề chưa rõ hoặc chưa có quy định hướng dẫn thi hành cụ thể đối với thủ tục thành lập doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; phê duyệt chiến lược, kế hoạch của doanh nghiệp (Điều 7, 8 và Điều 9)

          Nghị định quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên thông qua người đại diện phần vốn nhà nước. (Khoản 1 Điều 13)

          Cơ quan đại diện chủ sở hữu yêu cầu người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 36% vốn điều lệ trở lên báo cáo, xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu trước khi tham gia ý kiến, biểu quyết, quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật và Điều lệ của doanh nghiệp về các vấn đề: Mục tiêu, nhiệm vụ và ngành, nghề kinh doanh; tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản doanh nghiệp; Điều lệ, sửa đổi và bổ sung điều lệ của doanh nghiệp;… (Khoản 5 Điều 13)

          Cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định tại Quy chế hoạt động của người đại diện phần vốn nhà nước các vấn đề mà người đại diện phần vốn nhà nước phải báo cáo, xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu trước khi tham gia ý kiến, biểu quyết, quyết định tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ dưới 36% vốn điều lệ (nếu có) không trái với quy định tại Điều 48 Luậtsố 69/2014/QH13, Điều lệ của doanh nghiệp và quy định của pháp luật có liên quan.(Khoản 6 Điều 13).

Hồ Ngọc Nam

 

Tin tức khác cùng chuyên mục