Hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát, CPI cả năm 2018 tăng 3,54%

  
HOÀN THÀNH MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT,
CPI CẢ NĂM 2018 TĂNG 3,54%
image  
Theo số liệu công bố của Tổng Cục thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2018 giảm 0,25% so với tháng trước; tăng 2,98% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân năm 2018 so với năm 2017 tăng 3,54%.
Untitled.png
 
Giá nhóm hàng Giao thông và Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm giúp kéo mặt bằng giá tháng 12 giảm xuống.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng chỉ số giá tăng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,76%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,43%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02%; Bưu chính viễn thông tăng 0,02%. Nhóm giáo dục không đổi. Có 2 nhóm giảm: Giao thông giảm 4,88%; Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,89%.
Chỉ số giá vàng tháng 12/2018 tăng 0,41%, chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,07% so với tháng 11/2018.
Như vậy, Có thể thấy mặt bằng CPI tháng 12/2018 chủ yếu chịu tác động giảm từ 2 nhóm hàng Giao thông, Nhà ở và vật liệu xây dựng. Trong đó, nhóm Giao thông có tác động lớn nhất lên mặt bằng giá chung tháng 12 với mức tác động -0,46%; nhóm Nhà ở và vật liệu xây tác động -0,14%.
Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm giá này là do (1) giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm vào ngày 6/12/2018 và ngày 21/12/2018, tổng cộng giá xăng A95 giảm 1.830 đồng/lít, giá xăng E5 giảm 1.840 đồng/lít, giá dầu diezen giảm 1.630 đồng/lít nên bình quân tháng 12/2018 giá xăng dầu giảm 10,77% so với tháng trước, đóng góp giảm CPI chung 0,45%. (2) Từ ngày 1/12/2018 giá gas trong nước điều chỉnh giảm 33.000 đồng/bình 12kg, giảm 9,64% so với tháng 11/2018, do giá gas thế giới giảm 102,5 USD/tấn xuống mức 430 USD/tấn. (3) Giá thịt lợn tháng 12/2018 giảm 0,67% so với tháng trước do nguồn cung dồi dào, ước tính đến tháng 12/2018, tổng đàn lợn cả nước tăng khoảng 3,2%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 3,8 triệu tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2017.
Ở chiều ngược lại, trong tháng 12/2018, có một số nguyên nhân làm tăng chỉ số CPI như: (1) Giá dịch vụ y tế điều chỉnh tăng theo Thông tư số 39/2018/TT/BYT ngày 30/11/2018 của Bộ Y tế về việc quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc, theo đó chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 7,53% góp phần tăng CPI chung 0,29%. (2) Giá vé tàu hỏa tăng 2,45% do Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá vé dịp Tết Dương lịch 2019. (3) Vào thời điểm cuối năm nhu cầu may mặc quần áo, mũ nón, giầy dép tăng làm chỉ số giá hàng may mặc, mũ, nón, giày dép tăng 0,43%. (4) Mưa lũ ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào cuối tháng 11/2018 và đầu tháng 12/2018 làm chỉ số giá thực phẩm của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cao như: thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,07%; Thừa Thiên Huế tăng 0,88%; Đà Nẵng tăng 1,26%; Khánh Hòa tăng 0,83%; Phú Yên tăng 0,66%; Ninh Thuận tăng 1,1%; Bình Thuận tăng 1,85%.
Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có biến động CPI tăng, giảm trái chiều:
Thành phố Hà Nội: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2018 giảm 0,31% so với tháng 11/2018. Có 4/11 nhóm hàng giảm giá, trong đó giảm mạnh nhất là Nhóm giao thông giảm 4,37%, tiếp theo là nhóm nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,63%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,29%, bưu chính viễn thông giảm 0,07%. Có 6/11 nhóm hàng tăng, trong đó nhóm tăng nhiều nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,18%, tiếp theo là nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,61%. Các nhóm còn lại tăng từ 0,15% - 0,36%. Riêng nhóm Giáo dục ổn định.
   Thành phố Hồ Chí Minh: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2018 tăng 0,75% so với tháng trước. Có 7/11 nhóm hàng tăng giá, trong đó tăng cao nhất là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,34%, tiếp theo là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,76%. Các nhóm còn lại có mức tăng từ 0,09% - 0,51%. Có 3/11 nhóm hàng giảm, trong đó nhóm Giao thông là nhóm giảm mạnh nhất 5,40%; hai nhóm còn lại giảm từ 0,02%-1,72%. Có duy nhất nhóm Giáo dục có chỉ số ổn định.
Lạm phát cơ bản vẫn ở mức thấp:
Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 12 năm 2018 tăng 0,09% so với tháng trước, tăng 1,7% so với cùng kỳ; năm 2018 so năm 2017 tăng 1,48%.
Năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu từ việc tăng giá lương thực, thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Mức tăng lạm phát cơ bản trong năm 2018 so với cùng kỳ có biên độ dao động trong khoảng từ 1,18% đến 1,72%, lạm phát cơ bản bình quân năm tăng 1,48% thấp hơn mức kế hoạch 1,6%, cho thấy chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định
Tiếp tục quản lý, bình ổn mặt bằng giá cả thị trường cuối năm, chú trọng công tác dự báo, xây dựng kịch bản:
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội năm 2019 trong đó đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP ở mức 6,6-6,8%; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%. Dự báo một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2019: Việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, giá nhóm dịch vụ chuyển từ phí sang giá, biến động phức tạp của giá dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới, xu hướng tăng giá của đồng Đôla Mỹ tác động đến tỷ giá trong nước.
Để thực hiện kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu quốc hội giao, công tác quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát năm 2019 cần phải được thực hiện một cách thận trọng, linh hoạt và chủ động. Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành địa phương nhằm nghiêm túc triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá; Trong đó, tập trung triển khai một số giải pháp cụ thể:
- Tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu để kịp thời đề xuất các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu nhằm bình ổn giá cả thị trường nhất là trong thời điểm các dịp lễ, Tết hoặc các thời điểm xảy ra thiên tai, bão lũ.
- Kiểm soát chặt chẽ yếu tố hình thành giá đối với mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá; các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, hàng hóa, dịch vụ được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước; hàng dự trữ quốc gia; hàng hóa, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công…, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định, không để điều chỉnh tăng giá bất hợp lý.
- Đối với việc thực hiện lộ trình thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu: Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp giúp kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động chi phí đẩy đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống của người dân.
Tăng cường công tác điều hành, bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019: các Bộ, ngành thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trong đó chú trọng công tác cân đối cung cầu, tăng cường quản lý giá cả thị trường nhất làcác hàng hóa dịch vụ có nhu cầu tăng cao như dịch vụ vận tải, du lịch tại điểm vui chơi, thăm quan, lễ hội; đẩy mạnh tuyên truyền và hướng dẫn người dân đến các địa điểm bán hàng sạch, hàng bình ổn giá, phản ánh trung thực về cung cầu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đẩy mạnh tuyên truyền chương trình “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Chủ động bố trí kế hoạch sản xuất, kinh doanh và trực Tết để bảo đảm các hoạt động thông suốt trong dịp Tết Nguyên đán; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Nguồn: http://www.mof.gov.vn

Tin tức khác cùng chuyên mục