NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT QUẢN LÝ NỢ CÔNG NĂM VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN

 
 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT QUẢN LÝ NỢ CÔNG NĂM VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN
          Ngày 23/11/2017, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 (thay thế Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12) và Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý nợ công như Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 quy định về quản lý nợ chính quyền địa phương, Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 về nghiệp vụ quản lý nợ, Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 về cho vay lại vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ.
           Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu những điểm cơ bản, những điểm mới có liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ tham mưu của Sở Tài chính.
           1. Những quy định chung
a) Phân loại nợ công: Gồm nợ Chính phủ và nợ chính quyền địa phương, trong đó:
           Nợ chính quyền địa phương bao gồm: nợ do phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; nợ do vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhà nước và vay khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (Điều 4).
          Ở đây có một điểm mới và thuận lợi cho các thành phố có cơ chế đặc thù về tài chính - ngân sách đó là được vay quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, cụ thể theo quy định tại Khoản 2, Điều 10 Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 có quy định: Đối với địa phương được Chính phủ quy định cơ chế, chính sách tài chính – ngân sách đặc thù, trong đó cho phép vay từ quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh mới được phéo vay từ nguồn này và số vay này không phải trả lãi và được hoàn trả đúng thời hạn quy định.
           Khi nội dung này được triển khai trên thực tế sẽ giúp cho việc điều hành kế hoạch vốn đầu tư chủ động, tiết kiệm và hiệu quả hơn, phù hợp với chủ trương tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18-11-2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách Nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.
b) Nội dung quản lý nhà nước về nợ công; giám sát việc quản lý nợ công; những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý nợ công; xử phạt vi phạm pháp luật về quản lý nợ công.
          Luật bổ sung 01 điều quy định về giám sát việc quản lý nợ công. Theo đó, Luật quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đồng thời, giao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 7).
          Bổ sung thêm hành vi thông đồng, thiếu trách nhiệm trong công tác thẩm định bị cấm trong quản lý nợ công (Điều 8, Luật Quản lý nợ công năm 2017). Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể đối với việc xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nợ công đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan, tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nợ công (Điều 9).
          2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công (Chương II)
         a) Ở trung ương, Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về nợ công theo phân công của Chính phủ.
         Ở địa phương, Sở Tài chính là cơ quan đầu mối giúp UBND cấp tỉnh quản lý nợ chính quyền địa phương. Các cơ quan chuyên môn khác thuộc UBND cấp tỉnh căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, phối hợp với Sở Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý nợ chính quyền địa phương từ khâu đề xuất các khoản vay, thực hiện vay, quản lý và sử dụng khoản vay theo quy định (Điều 18, Nghị định số 93/2018/NĐ-CP).
           b) Về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Quyết định, điều chỉnh kế hoạch vay, trả nợ 05 năm, hằng năm của chính quyền địa phương theo quy định của Luật này và quy đnh của pháp luật về ngân sách nhà nước; Quyết định danh mục các dự án đầu tư từ vốn vay của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật; phê duyệt Đề án phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; Giám sát việc vay, vay lại, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, sử dụng vốn vay và trả nợ của chính quyền địa phương.
           c) Về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Lập kế hoạch vay, trả nợ 05 năm, hằng năm của chính quyền địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; Xây dựng chương trình quản lý nợ 03 năm của chính quyền địa phương, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hp pháp khác, vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo quy định của Luật này; Thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vốn vay của chính quyền địa phương; Bố trí ngân sách địa phương để trả nợ đầy đủ, đúng hạn; Giải trình, cung cấp thông tin, báo cáo cấp có thẩm quyền tình hình huy động, phân bổ, quản lý, sử dụng vốn vay và trả nợ của chính quyền địa phương.
          d) Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, sử dụng vốn vay hoặc được bảo lãnh vay vốn: Tiếp nhận, sử dụng vốn vay hiệu quả, đúng mục đích, đúng thẩm quyền theo quy định của Luật này; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ liên quan phát sinh từ các thỏa thuận vay, phát hành công cụ nợ, thỏa thuận vay lại hoặc bảo lãnh Chính phủ; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định của pháp luật về quản lý nợ công; người đứng đầu cơ quan, tổ chức tiếp nhận, sử dụng vốn vay hoặc được bảo lãnh vay vốn phải chịu trách nhiệm cá nhân trong trường hợp xảy ra vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức.
          đ) Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công: Ủy ban nhân dân cấp tnh chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong quản lý nợ công; người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan đến quản lý nhà nước vnợ công phải chịu trách nhiệm cá nhân trong trưng hợp xảy ra vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nợ công có trách nhiệm giải trình, báo cáo cấp có thẩm quyền việc đề xuất, thẩm định và phê duyệt chtrương vay; đàm phán, ký kết thỏa thuận vay và phát hành công cụ nợ; phân bổ và sử dụng vốn vay; trả nợ và thực hiện các nghiệp vụ quản lý nợ công.
         Có thể thấy, việc phân định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nợ công đã theo nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý nợ công, giao một cơ quan là Bộ Tài chính, Sở Tài chính chịu trách nhiệm chính trong quản lý nợ công thống nhất; tăng thẩm quyền của tập thể, hạn chế quy định thẩm quyền của cá nhân; gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với trách nhiệm quản lý huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ công.
3. Chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, chương trình quản lý nợ công 03 năm, kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm (Chương III)
           Luật giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch vay, trả nợ 05 năm của chính quyền địa phương (khoản 3 Điều 22) và nhằm cụ thể hóa triển khai kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, Điều 23 của Luật quy định chương trình quản lý nợ công 03 năm gồm những nội dung: Đánh giá tình hình thực hiện việc quản lý nợ công năm hiện hành; dự kiến tổng mức vay, trả nợ của Chính phủ, của chính quyền địa phương và hạn mức bo lãnh Chính phủ của năm kế hoạch và 02 năm tiếp theo; dự báo tình hình thị trường vốn trong nước và quốc tế; khả năng, cơ cấu nguồn vay; phương án vay và nghĩa vụ trả nợ; chi phí huy động vốn, rủi ro có thể phát sinh trong năm kế hoạch và 02 năm tiếp theo; các giải pháp chủ yếu để thực hiện chương trình. Luật giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính xây dựng chương trình quản lý nợ 03 năm của chính quyền địa phương cấp tỉnh và gửi Bộ Tài chính tổng hợp, xây dựng chương trình trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
          Điều 24 của Luật quy định, kế hoạch vay, trả nợ hằng năm bao gồm: Kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ hằng năm; kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương hằng năm; hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm.
          Kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương hằng năm với mục đích thực hiện nhiệm vụ tài chính, ngân sách và đầu tư công của địa phương trong năm kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; bao gồm vay để bù đắp bội chi ngân sách địa phương, trả nợ gốc; nghĩa vụ trả nợ của chính quyền địa phương; cơ cấu vốn vay và xác định nguồn để trả nợ. Hằng năm, cùng với thời gian lập dự toán ngân sách nhà nước, Luật giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến trước khi gửi Bộ Tài chính để tổng hợp (khoản 3 Điều 24).
4. Quản lý cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài (Chương V)
          So với Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc cho vay lại vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ được quy định chặt chẽ hơn về đối tượng vay lại; điều kiện vay lại; thẩm định cho vay lại; bổ sung quy định về phương thức cho vay lại, dự phòng rủi ro cho vay lại và việc quản lý rủi ro cho vay lại.
          Đối với phương thức cho vay lại, tại Điều 35 của Luật quy định Bộ Tài chính cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay lại để thực hiện chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
          Theo quy định tại Điều 21, Nghị định số 97/2018/NĐ-CP thì tỷ lệ vay lại của thành phố Đà Nẵng là 70% (trước đây 15%, gần đây 50%). Khoản 1 Điều 37 của Luật quy định, phí quản lý cho vay lại bằng 0,25%/năm tính trên dư nợ vay lại do bên vay lại nộp và được sử dụng để chi phục vụ công tác cho vay, quản lý, thu hồi vốn cho vay lại của cơ quan cho vay lại.
          Đối với quy định về dự phòng rủi ro cho vay lại, Luật quy định mức dự phòng rủi ro cho vay lại được tính trên cơ sở đánh giá năng lực tài chính của bên vay lại, mức độ rủi ro của từng chương trình, dự án nhưng không quá 1,5%/năm trên dư nợ vay lại do bên vay lại nộp; trường hợp cơ quan cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng, dự phòng rủi ro cho vay lại được nộp vào Quỹ tích lũy trả nợ. Trường hợp cơ quan cho vay lại chịu toàn bộ rủi ro tín dụng, dự phòng rủi ro cho vay lại được nộp cho cơ quan cho vay lại (khoản 2 Điều 37).
           Như vậy có thể thấy, trong những năm đến, việc huy động, sử dụng vốn vốn vay ODA cần phải được cân nhắc vì chi phí vay và rủi ro ngày càng tăng trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ không còn được nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA) thuộc Ngân hàng Thế giới (“tốt nghiệp IDA” từ tháng 7/2017)
5. Quản lý nợ của chính quyền địa phương (Chương VII)
So với Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc quản lý nợ chính quyền địa phương được quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, điều kiện vay và trả nợ của chính quyền địa phương; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, đặc biệt là Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về quản lý nợ của Chính quyền địa phương và Chính phủ đã có Nghị định số 93/2018/NĐ-CP quy định cụ thể nội dung này.
6. Bảo đảm khả năng trả nợ công
a) Bảo đảm khả năng trả nợ công
          Điều 54 của Luật quy định cụ thể về bảo đảm khả năng trả nợ công, theo đó việc huy động vốn vay phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công và chủ động bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đã đánh giá đầy đủ tác động đến quy mô nợ công, trong giới hạn các chtiêu an toàn nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn (khoản 1, 2 Điều 54). Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể đối với việc chi trả các khoản nợ của ngân sách nhà nước, đó là: (a) Chi trả lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ các khoản nợ theo dự toán ngân sách nhà nước hằng năm đã được cp có thẩm quyền quyết định; (b) Bảo đảm nguồn bội thu, tăng thu so vi dự toán, tiết kiệm chi, kết dư ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác để trả các khoản nợ gốc đầy đủ, đúng hạn; (c) Vay mới để trả nợ gốc phải nằm trong tổng mức vay của ngân sách nhà nước hằng năm được Quốc hội quyết định (khoản 3 Điều 54). Đối với đối tượng được bảo lãnh, đối tượng được vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài có trách nhiệm trả nợ đầy đủ, đúng hạn (khoản 4 Điều 54).
            b) Quản lý rủi ro đối với nợ công
          Bên cạnh các quy định về quản lý rủi ro cho vay lại và bảo lãnh Chính phủ tại Chương V và Chương VI, Điều 55 quy định cụ thể quản lý và xử lý rủi ro đối với nợ công. Quản lý rủi ro đối với nợ công được hiểu là việc nhận diện các loại rủi ro đối với danh mục n công, xác định mức độ ảnh hưởng để có biện pháp phòng ngừa, xử lý thích hợp, bảo đảm khả năng trả nợ công (khoản 1 Điều 55).
          Luật đã chỉ ra các loại rủi ro đối với nợ công, đó là: (a) Rủi ro về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ; (b) Rủi ro do biến động của thị trường tài chính ảnh hưởng đến việc huy động vốn; (c) Rủi ro thanh khoản do thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết, bao gồm khả năng trả nợ của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; (d) Rủi ro tín dụng do đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh không trả được nợ đầy đủ, đúng hạn; (đ) Các rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến an toàn nợ công (khoản 2 Điều 55).
         Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa rủi ro đối với nợ công (khoản 3 Điều 55); Các biện pháp xử lý rủi ro đối với nợ công (khoản 4 Điều 55); Các phương án phòng ngừa và xử lý rủi ro khi xảy ra sự kiện ảnh hưởng đến nợ công (khoản 5 Điều 56).
Luật giao Bộ Tài chính thực hiện theo thẩm quyền và báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thực hiện đối với cơ cấu lại nợ thông qua các biện pháp mua lại nợ, hoán đổi nợ, gia hạn nợ (khoản 6 Điều 55); đồng thời quy định nghĩa vụ của đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh (khoản 7 Điều 55).
          c) Thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về nợ công
          Luật quy định cụ thể các yêu cầu trong các tác thống kê nợ công, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nợ công. Luật giao Bộ Tài chính xây dựng và quản lý thống nhất cơ sở dữ liệu về nợ công; phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nợ công.
          d) Báo cáo thông tin về nợ công:  Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, Bộ Tài chính và các cơ quan có thẩm quyền thông tin về nợ công (khoản 3 Điều 60).
          đ) Công bố thông tin về nợ công
          Luật quy định cụ thể đối với các chỉ tiêu nợ, số liệu nợ được công bố, gồm nợ Chính phủ, nợ của chính quyền địa phương, nợ được Chính phủ bảo lãnh (khoản 1 Điều 61). Luật quy định việc cung cấp và công bố thông tin về nợ công thuộc danh mục bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nưc. Đồng thời quy định thẩm quyền công bố thong tin về nợ công (khoản 3 Điều 61); hình thức công bố thông tin về nợ công (khoản 4 Điều 61); các quy định về phát hành bản tin nợ công (khoản 5 Điều 61).
           Luật giao Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan cho vay lại, cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính đối chiếu, xác nhận số liệu nợ công và các số liệu có liên quan.
          Tóm lại, Luật Quản lý nợ công và các Nghị định hướng dẫn đã giao cho Sở Tài chính là cơ quan đầu mối giúp UBND cấp thành phố quản lý nợ công của chính quyền địa phương. Trong thời gian đến nhiệm vụ của Sở Tài chính sẽ tăng lên so với Thông tư số 220/2015/TTLT-BTC-BNV ngày 31/12/2015, do đó ngay sau khi UBND thành phố có chỉ đạo về nội dung này (khi nhận được các văn bản của trung ương), Sở Tài chính sẽ tham mưu để UBND thành phố triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền quy định của Luật Quản lý nợ công và các văn bản hướng dẫn. Về phía Sở Tài chính cần thống nhất đầu mối để theo dõi, tham mưu cho Lãnh đạo Sở đối với công tác này.
 Trần Văn Tuấn
 

Tin tức khác cùng chuyên mục