Những điểm mới về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong Nghị định 63/2018/NĐ-CP

               Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.

 Đầu tư theo hình thức PPP góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách, tăng tiềm năng về đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ và quản lý rủi ro... Việc thực hiện dự án PPP theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015  của Chính phủ quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên quá trình triển khai cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế đến từ những nguyên nhân như sự bất hợp lý về quy định liên quan đến dự án PPP, đặc biệt là: quy định về chủ trương đầu tư dự án PPP; nguồn lực tài chính bố trí để chuẩn bị dự án và phần Nhà nước tham gia vào các dự án PPP hạn chế, chưa rõ ràng; trình tự thực hiện dự án PPP còn chưa phù hợp với mọi loại dự án, nhất là dự án áp dụng công nghệ cao; nguồn thanh toán theo hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (viết tắt là hợp đồng BLT), hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (viết tắt là hợp đồng BTL) còn hạn hẹp; thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thật sự không cần thiết, đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật. Bên cạnh đó, nhiều bộ, ngành, địa phương cũng như dư luận đặt ra các yêu cầu cần có quy định quản lý chặt chẽ hơn đối với dự án thực hiện theo Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (viết tắt là hợp đồng BT).

 Nhằm khắc phục một số tồn tại nêu trên, ngày 04 tháng 5 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư thay thế Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ.

Những điểm mới của Nghị định 63/2018/NĐ-CP so với Nghị định 15/2015/NĐ-CP cụ thể như sau:

1. Về lĩnh vực đầu tư: Bổ sung thêm lĩnh vực đầu tư gồm: công viên, nhà, sân bãi để ô tô, xe, máy móc, thiết bị; nhà ở công vụ, hạ tầng khu đô thị, hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao; cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2. Về các loại hợp đồng: Ngoài các loại hợp đồng theo quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP, bổ sung thêm Hợp đồng hỗn hợp, đây là Hợp đồng dự án kết hợp các loại hợp đồng được quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 3 Nghị định 63/2018/NĐ-CP đã tạo điều kiện cho các Bộ, ngành địa phương dễ dàng thực hiện.

    3. Về tỷ lệ vốn chủ sở hữu: Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư so với quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP. Cụ thể tại Điều 10, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc lũy tuyến như sau: Đối với dự án có tổng vốn đầu tư đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư; Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc:  Đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 20%; đối với phần vốn từ trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10%. Như vậy, có thể thấy quy định mới hướng đến việc lựa chọn nhà đầu tư có năng lực tài chính vững vàng hơn so với trước, tránh được tình trạng nhà đầu tư dựa phần lớn vào vốn vay ngân hàng để thực hiện dự án, dễ dẫn đến những hệ lụy như mất khả năng thanh toán, “treo” hoặc làm đội vốn dự án, tăng thời gian khai thác dự án...

4. Bổ sung thêm việc thực hiện dự án PPP của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp (cụ thể tại Khoản 2 Điều 8).

5. Về lĩnh vực vốn, bổ sung nguồn vốn Nhà nước tham gia trong dự án PPP (Nguồn chi thường xuyên, nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công, nguồn vốn thanh toán cho các dự án theo hợp đồng BT)

Đối với vốn thanh toán cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ theo hợp đồng BLT, BTL được quy định rõ ràng tạo điều kiện cho các Bộ, ngành, địa phương dễ thực hiện, cụ thể tại Khoản 3 Điều 11: Vốn thanh toán cho nhà đầu tư được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công, nguồn chi thường xuyên nhằm duy trì hoạt động cung cấp dịch vụ công, nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công.

Theo đó bổ sung hướng dẫn thêm về lập dự toán tại Điều 14 Lập dự toán nguồn chi thường xuyên và nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công làm phần vốn thanh toán cho nhà đầu tư

6. Bổ sung thêm nội dung  quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án do Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh lập và phân cấp cụ thể hơn, trong đó Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với Dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách trung ương từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 300 tỷ đồng trong tổng vốn đầu tư của dự án (Khoản 2 Điều 16).

7. Bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

8. Quy định chặt chẽ hơn đối với dự án BT (lựa chọn nhà đầu tư sau khi có thiết kế, dự toán bổ sung các nguồn thanh toán khác ngoài quỹ đất, quy hoạch chi tiết của khu đất dự kiến thanh toán). Đã quy định cụ thể một Chương riêng về dự án thực hiện theo hợp đồng BT (Chương V).

9. Đặc biệt đã quy định công khai thông tin hợp đồng dự án PPP trên thông tin đại chúng, cụ thể tại Điều 41: Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai thông tin hợp đồng dự án trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Điều này thể hiện thông tin minh bạch trong các dự án PPP.

Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, những điểm mới quan trọng như tăng cường tính phân cấp, tự chịu trách nhiệm ở các Bộ, ngành, địa phương; loại bớt những nhà đầu tư yếu kém về năng lực tài chính; gia tăng hình thức tham gia của Nhà nước vào các dự án PPP, gia tăng sự tham gia của nhà đầu tư vào các dự án PPP, giúp giảm gánh nặng chi lên ngân sách và cụ thể hóa một số nội dung dễ triển thực hiện tại địa phương. Nghị định 63/2018/NĐ-CP có hiệu lực thực hiện kể từ ngày 19 tháng 6 năm 2018./.

 

Ngô Thị Bích

Tin tức khác cùng chuyên mục